Theo điểm a khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, vi phạm là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Như vậy, có thể thấy, quy định trừ tiền lương khi vi phạm hành chính, trong đó có vi phạm giao thông đường bộ đã có từ trước - từ ngày 01/7/2013 theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, được hướng dẫn bởi Nghị định 166/2013/NĐ-CP.
Tuy nhiên, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 296/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ 01/01/2026 thay thế Nghị định 166/2013/NĐ-CP vẫn hướng dẫn về việc trừ lương để đóng phạt vi phạm hành chính, trong đó có vi phạm giao thông.
Theo hướng dẫn tại Mục 1 Nghị định 296/2025/NĐ-CP từ Điều 10 đến Điều 14, Chính phủ hướng dẫn thủ tục khấu trừ tiền lương khi vi phạm giao thông như sau:
Theo Điều 10 Nghị định 296/2025/NĐ-CP, đối tượng bị cưỡng chế trừ một phần tiền lương/thu nhập khi vi phạm giao thông gồm:
Như vậy, so với quy định trước đây thì Nghị định 296 đã bổ sung thêm nhiều đối tượng vi phạm giao thông sẽ bị trừ một phần lương hoặc thu nhập để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính.

Căn cứ mục 1 Nghị định 296/2025/NĐ-CP, thủ tục khấu trừ tiền lương của người vi phạm giao thông thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Gửi yêu cầu xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập
Người có thẩm quyền gửi yêu cầu xác minh thông tin về tiền lương và thu nhập của người vi phạm giao thông bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Bước 2: Xác minh thông tin về tiền lương và thu nhập
Để xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập thì cần thực hiện hai thủ tục sau:
(1) Người vi phạm giao thông có trách nhiệm cung cấp cho người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thông tin về:
Thời gian cung cấp là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu liên quan khác (kèm theo - nếu có).
So với quy định trước đây tại Điều 9 Nghị định 166/2013/NĐ-CP, Điều 16 Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã tăng thời hạn người vi phạm giao thông bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ một phần tiền lương/thu nhập từ 03 ngày làm việc lên 05 ngày làm việc.
(2) Người có thẩm quyền cưỡng chế hoặc tiếp nhận quyết định cưỡng chế để thi hành có văn bản yêu cầu người vi phạm giao thông bị cưỡng chế, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương/thu nhập và các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc tổ chức xác minh thông tin.
Thời hạn cho hoạt động này là 05 ngày làm việc kể từ ngày:
Sau khi nhận được văn bản yêu cầu, những đối tượng tren phải cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu hằng tháng của cá nhân vi phạm giao thông bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thời hạn 03 ngày làm việc.
Trong khi đó, Điều 9 Nghị định 166/2013/NĐ-CP trước đây không nêu cụ thể thời gian cũng như thủ tục xác minh thông tin về tiền lương và thu nhập như quy định mới từ 01/01/202 ở trên.
Bước 3: Ra quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền lương
Thời hạn ra quyết định là 02 ngày làm việc kể từ ngày xác định được thông tin về tiền lương, thu nhập. Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền lương căn cứ vào điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế. Đây là quy định mới nêu tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 296/2025/NĐ-CP.
Trước đây, Điều 10 Nghị định 166/2013/NĐ-CP chỉ nêu những nội dung của Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền lương gồm:
Bước 4: Tiến hành khấu trừ
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày đến kỳ lĩnh tiền lương/thu nhập gần nhất, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm:
Nếu chưa khấu trừ đủ số tiền mà người vi phạm giao thông bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đã nghỉ việc thì phải thông báo ngay cho người ra quyết định cưỡng chế biết.
Nếu cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương/thu nhập của người vi phạm giao thông bị áp dụng biện pháp cưỡng chế bị xem là có hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ và bị xử lý theo quy định của pháp luật nếu:
Theo Điều 13 Nghị định 296/2025/NĐ-CP, việc khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có thể tiến hành nhiều lần, tỷ lệ như sau:
- Đối với tiền lương: Tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương, lương hưu thực trả hằng tháng được hưởng sau khi trích nộp các khoản sau:
Đồng thời, việc khấu trừ phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Trong khi quy định cũ tại Điều 11 Nghị định 166/2013/NĐ-CP chỉ dừng ở việc quy định tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương được hưởng.
- Với thu nhập khác: Tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 50% tổng số thu nhập hằng tháng, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Điều kiện đảm bảo cũng là quy định mới được bổ sung tại Nghị định 296/2025/NĐ-CP so với trước đây.
Trên đây là quy định về vấn đề: Từ 2026 vi phạm hành chính bị trừ tiền lương như thế nào theo Nghị định 296/2025/NĐ-CP?